Gần đây, công chúng mới biết rằng Microsoft đã âm thầm theo dõi các máy tính chạy Windows thông qua một mã định danh đặc biệt mà hầu hết người dùng chưa từng nghe đến. Microsoft chưa bao giờ công khai chi tiết về mã này, và phải đến khi đệ trình lên tòa án liên bang, công ty mới chính thức xác nhận sự tồn tại của nó.
Mã định danh này được gọi là GDID, viết tắt của Global Device Identifier (Mã định danh thiết bị toàn cầu), và gần đây nó đã giúp FBI bắt giữ một hacker bị cáo buộc, người thuộc một nhóm tin tặc, đã đột nhập vào một cửa hàng trang sức. Nghi phạm đã sử dụng VPN, proxy và nhiều bí danh để che giấu danh tính, nhưng GDID vẫn giúp các nhà chức trách xác định được hắn.
Và trong khi GDID giúp FBI bắt giữ kẻ gây ra mối đe dọa, vụ việc này cũng phơi bày một điều mà nhiều người dùng Windows bình thường cảm thấy bất an. Nó đã làm sáng tỏ một cơ chế theo dõi được tích hợp sẵn trong hệ điều hành đang chạy trên khoảng 1,6 tỷ máy tính trên toàn thế giới.
GDID thực chất là gì?
GDID là một khóa cố định, hay nói cách khác là một mã định danh, được gắn liền với một bản cài đặt Windows cụ thể. Nó được tạo ra bên ngoài, trên máy chủ của Microsoft, và sau đó được lưu trữ cục bộ trong registry. Mỗi cài đặt Windows đều được gán một GDID, cho dù đó là máy tính vật lý hay máy ảo.
Mô tả của chính Microsoft, được đưa ra bởi một đại diện của công ty trong đơn kiện chưa được niêm phong trong vụ án United States v. Peter Stokes (N.D. Illinois), gọi nó là “một mã định danh cấp thiết bị cố định được thiết kế để xác định duy nhất một cài đặt hệ điều hành Windows trên một thiết bị.”
Giá trị của GDID là một số 64 bit, được định dạng là g: theo sau là một chuỗi dài các chữ số. Khi Windows thiết lập một thiết bị với Tài khoản Microsoft, dịch vụ nhận dạng Passport sẽ liên hệ với máy chủ của Microsoft và nhận lại mã định danh trong phản hồi.
GDID vẫn tồn tại sau các bản cập nhật Windows và duy trì tính nhất quán sau hầu hết các thay đổi hệ thống. Nhưng nếu bạn cài đặt lại Windows, nó sẽ có một GDID mới. Tuy nhiên, mã định danh cũ và mọi thứ Microsoft đã ghi lại liên quan đến nó vẫn nằm nguyên tại vị trí cũ trên máy chủ của công ty.
Điều đặc biệt làm tăng thêm sự bí ẩn của khóa này là việc thiếu tài liệu chính thức. Tài liệu công khai duy nhất của Microsoft về GDID chỉ là một dòng duy nhất trong bảng tham chiếu Azure Monitor, mô tả cột GlobalDeviceId là “Mã định danh thiết bị toàn cầu của Microsoft. Đây là mã định danh được Microsoft sử dụng nội bộ.”
Không có trang hỗ trợ chuyên dụng nào, và Microsoft chỉ giải thích chi tiết hơn trong hồ sơ tòa án liên bang đã đề cập ở trên.
GDID xuất hiện ở đâu?
Các nhà nghiên cứu độc lập đã phân tích ngược cơ chế này và cung cấp cho chúng ta thêm thông tin chi tiết về cách GDID hoạt động. Một dịch vụ có tên là Passport Service nhận mã định danh do máy chủ tạo ra và ghi cục bộ vào registry. Từ đó, Nền tảng Thiết bị Kết nối của Windows sẽ lấy mã định danh này và đăng ký nó vào hệ thống nhận dạng đa thiết bị của Microsoft, Dịch vụ Thư mục Thiết bị.
Mã định danh này được nhúng vào nhiều tính năng của Windows. Điều đó bao gồm kích hoạt Windows, mua hàng trên Microsoft Store và cấp phép ứng dụng, Phone Link, đồng bộ hóa clipboard giữa các thiết bị của bạn, và nhiều hơn nữa.
Bạn có thể làm gì với GDID trên máy tính của mình?
Về cơ bản, bạn không thể làm được nhiều, vì không có cách nào ngăn Windows tạo ra GDID. Bạn có thể giảm dữ liệu chẩn đoán và lịch sử hoạt động, điều này sẽ giảm lượng thông tin bổ sung được gắn vào mã định danh trong tương lai, nhưng không có cách nào xóa được mã định danh mà Microsoft đã lưu trữ.
Vì GDID thực tế được lưu trữ cục bộ trong registry, nên mọi người đều có thể xem GDID của riêng mình, và quy trình này không yêu cầu bất kỳ thông tin đăng nhập đặc biệt nào. Tất cả những gì bạn cần làm là chạy một lệnh PowerShell đơn giản, và bạn sẽ thấy GDID của mình.
Đây là lệnh:
$hex = (Get-ItemProperty ‘HKCU:\SOFTWARE\Microsoft\IdentityCRL\ExtendedProperties’).LID
“g:$([Convert]::ToUInt64($hex,16))”
Vấn đề lớn nhất mà cả chuyên gia bảo mật và người dùng gặp phải với GDID là thiếu tính minh bạch. Hầu hết các hệ điều hành đều có cơ chế theo dõi riêng. Hầu hết đều thông báo cho người dùng hoặc hiển thị lời nhắc chấp nhận các điều khoản, ngoại trừ Windows.

