Vào cuối thập niên 1990, IBM đã thu nhỏ các thành phần cơ bản của ổ cứng (HDD) thông thường để gói gọn chúng trong một thiết bị có kích thước chỉ nhỉnh hơn đồng xu 25 cent một chút. Microdrive bao gồm một phiến đĩa quay tí hon, một mô-tơ và đầu đọc/ghi có thể di chuyển.
Tưởng chừng IBM đã tìm ra giải pháp lưu trữ di động tối ưu, nhưng thật không may cho họ, công nghệ bộ nhớ flash lại phát triển với tốc độ nhanh hơn nhiều so với bất kỳ loại ổ đĩa cơ học nào.
IBM đã thu nhỏ toàn bộ một ổ cứng vào trong một chiếc thẻ CompactFlash.
Microdrive sử dụng công nghệ ổ cứng (HDD) quen thuộc nhưng ở quy mô nhỏ đến mức khó tin.
Thế hệ đầu tiên của dòng Microdrive do IBM sản xuất ra mắt vào năm 1999 với các mức dung lượng 170MB và 340MB. Mỗi ổ đĩa có kích thước chỉ 1,69 x 1,43 x 0,20 inch và nặng khoảng 16 gram, nhưng bên trong lại chứa một đĩa từ tính đơn kích thước 1,08 inch quay ở tốc độ 4.500 vòng/phút. Nó cũng sở hữu các thành phần cơ bản tương tự như một ổ cứng kích thước lớn thông thường. Thú thật, trông nó có vẻ khá “dễ thương” với mô-tơ trục quay, bộ truyền động, đầu đọc/ghi và mạch điều khiển điện tử—tất cả đều được thu nhỏ lại. Xét cho cùng, nó nhỏ gọn đến mức có thể nằm gọn giữa hai ngón tay.
Phần vỏ của ổ đĩa tuân theo chuẩn CompactFlash Type II; chuẩn này giữ nguyên diện tích bề mặt như thẻ Type I (vốn đã phổ biến) nhưng tăng độ dày để tạo không gian chứa cơ chế ổ đĩa bên trong. Microdrive sử dụng giao diện ATA tương thích với CompactFlash và cũng có thể hoạt động trong khe cắm PCMCIA Type II thông qua bộ chuyển đổi; điều này cho phép nó tích hợp vào hệ sinh thái lưu trữ di động vốn đã được sử dụng rộng rãi trên máy ảnh và máy tính xách tay.
Tuy nhiên, IBM không chỉ đơn thuần thu nhỏ mọi linh kiện theo cùng một tỷ lệ (làm vậy liệu có khả thi?). Ban đầu, dự án từng cân nhắc sử dụng công nghệ hệ thống vi cơ điện tử (MEMS) cho các bộ phận như mô-tơ và bộ truyền động, nhưng IBM đã đi đến kết luận rằng việc thu nhỏ một cách cẩn trọng các thiết kế ổ cứng (HDD) truyền thống sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn và chi phí thấp hơn.
Microdrive đã giải quyết được một vấn đề mà bộ nhớ flash chưa thể giải quyết vào thời điểm đó.
Microdrive đã tìm được chỗ đứng riêng trong lĩnh vực máy ảnh kỹ thuật số, và đó chính là nơi nó thực sự phát huy hiệu quả. Theo tài liệu PDF được dẫn ở trên, vào năm 2000, IBM đã xác định máy ảnh kỹ thuật số là ứng dụng phổ biến nhất của loại ổ đĩa này, và ta có thể hiểu rõ lý do tại sao.
Cũng theo nguồn tin này, một chiếc Microdrive dung lượng 1GB có thể lưu trữ 710 bức ảnh nén ở độ phân giải 2.048 x 1.530. Tuy nhiên, nếu chuyển sang định dạng ảnh không nén (vốn chiếm khoảng 10MB mỗi ảnh), con số này sẽ giảm xuống chỉ còn 100. Trong khi đó, một chiếc thẻ nhớ flash nhỏ gọn có thể nhanh chóng bị lấp đầy chỉ sau vài tấm ảnh như vậy – một điều bất tiện nếu bạn không chỉ chụp ảnh chiếc máy tính của mình suốt cả ngày.
Thẻ nhớ flash có ưu điểm là sử dụng công nghệ bán dẫn (solid-state), nhưng để có được dung lượng lưu trữ đủ lớn thì chi phí lại rất cao. Các thông tin từ năm 1999 cho thấy mẫu Microdrive 340MB đầu tiên của IBM cung cấp dung lượng gấp hơn năm lần so với các loại thẻ nhớ bán dẫn có cùng kích thước vật lý; đồng thời, IBM định vị Microdrive vào đúng khoảng trống chênh lệch chi phí trên mỗi megabyte đang ngày càng nới rộng giữa thẻ nhớ flash và các ổ cứng (HDD) dung lượng lớn.
Bộ nhớ flash đã bắt kịp Microdrive trong khoảng ba năm.
Theo thời gian, dung lượng của Microdrive đã tăng lên đáng kể; IBM đã ra mắt các phiên bản 512MB và 1GB vào năm 2000. Lúc này, sản phẩm thực sự trở nên đáng gờm.
Tuy nhiên, phiên bản 1GB có mức giá cao “cắt cổ” lên tới 499 USD, dù vậy đó vẫn là một thành tựu ấn tượng: IBM đã tăng dung lượng của ổ đĩa ban đầu lên gần gấp ba lần chỉ trong hơn một năm. Tiếc thay, công nghệ bộ nhớ flash lại phát triển với tốc độ nhanh hơn nữa.
SanDisk đã công bố thẻ CompactFlash Type I dung lượng 1GB vào cuối năm 2001 và sản phẩm này bắt đầu lên kệ vào năm 2002. Chưa đầy ba năm sau khi Microdrive đầu tiên ra mắt, bộ nhớ flash đã bắt kịp mức dung lượng tối đa của nó mà không cần đến đĩa từ quay hay những cơ chế phức tạp khác (những thứ mà, như tôi đã nói, thực ra cũng có nét thú vị riêng).
Ban đầu, IBM vẫn nắm lợi thế về giá, bởi sản phẩm đột phá của SanDisk có giá gần 800 USD—một mức giá khiến ngay cả những ổ SSD đắt đỏ ngày nay cũng trở nên rẻ hơn nhiều. Thế nhưng giá cả đã giảm nhanh chóng; mặc dù Microdrive vẫn có tốc độ vượt trội so với các thẻ nhớ flash thông thường và các phiên bản dung lượng cao hơn đang được phát triển, nhưng đến cuối năm 2003, bộ nhớ flash đã cung cấp cùng mức dung lượng với chi phí thấp hơn. Rẻ hơn, dung lượng tương đương, tiêu thụ ít điện năng hơn và không có bộ phận chuyển động nào… quả thực, Microdrive đã rơi vào tình thế vô cùng khó khăn.
Khi IBM và Hitachi hợp nhất mảng kinh doanh thiết bị lưu trữ vào năm 2003, Microdrive không còn là vấn đề của IBM nữa mà chuyển sang tay Hitachi, và Hitachi không hề có ý định từ bỏ dòng sản phẩm này. Hãng đã công bố phiên bản 4GB với dung lượng gấp bốn lần so với trước đó. Đây không đơn thuần là ổ đĩa cũ được nhồi nhét thêm dữ liệu; Hitachi đã thu nhỏ đầu đọc/ghi xuống còn một nửa kích thước so với phiên bản tiền nhiệm, đưa nó lại gần đĩa từ hơn 40% và nâng mật độ dữ liệu của ổ đĩa lên mức hơn 60 tỷ bit trên mỗi inch vuông. Tốc độ truyền tải dữ liệu cũng tăng 50%; vì vậy, dù bộ nhớ flash có thể đã bắt kịp, nhưng chiếc ổ cứng (HDD) tí hon này vẫn chưa chịu đầu hàng. Ít nhất là vào thời điểm đó.
Sau đó, Microdrive đã có được một trong những vai trò đáng chú ý nhất khi được trang bị bên trong chiếc iPod mini đời đầu của Apple. Thiết bị này có thể chứa khoảng 1.000 bài hát với mức giá 249 USD, và thế hệ thứ hai đã nâng dung lượng lên mức 6GB. Tuy nhiên, thành công đó chỉ kéo dài trong thời gian ngắn.
Apple tiếp nối bằng việc ra mắt iPod nano bản 4GB sử dụng bộ nhớ flash; thiết bị này nhẹ hơn, tốt hơn nhiều mà vẫn giữ nguyên mức giá 249 USD.

